G Gy Trong Thơ

Qun Văn

 

           G Gy Trong Thơ

v phiến


       Chế Lan Vin c bi "Nhớ tuổi thơ":

Nhớ biển miền Trung tiếng sng đa

Nhớ nh cha mẹ, cảnh trường xưa...

Nhớ chao i nhớ! Trời xanh thế!

G lại dồn thm tiếng gy trưa!

Bi thơ viết năm 1985, lc bấy giờ Chế Lan Vin đ 65 tuổi. Một ng lo chợt nhớ nh cha mẹ, nhớ ngi trường học thời thơ ấu. Ci nhớ ấy gồm trong bốn chữ "Nhớ chao i nhớ". Tức nhớ da diết, nhớ quay quắt, nhớ cồn co. Yếu tố gy nhớ trầm trọng c hai: l trời xanh qu v tiếng g gy trưa.

Non nửa thế kỷ trước, lc Huy Cận vừa lớn ln, cũng từng c cu thơ g gy. Trong bi "Em về nh" một cặp tnh nhn tạm chia tay, em về thăm qu, anh ở lại để tr theo di bước chn em. Sng em rời Huế, xế trưa hẳn em đ tới ng ba Trn Sa trn sng Phố ở H Tĩnh.

Tới ngả ba sng, nước bốn bề

Nửa chiều, g lạ gy bn đ.

Ci tiếng con g gy vo buổi trưa buổi xế, n khuấy động những nỗi niềm no đ thật su xa nơi lng người. Sức kch động của tiếng g trưa, c lẽ Lưu Trọng Lư l người đầu tin để đến: trong một cuộc diễn thuyết về thơ mới ở Qui Nhơn hồi năm 1934 ng Lưu c cu nhận xt: "Cc cụ bng khung v tiếng trng đm khuya; ta nao nao v tiếng g lc đng ngọ."

Tiếng trng tiếng g thnh ra l những yếu tố lin hệ đến cuộc sống tnh cảm của chng ta. G khng phải được nui để thưởng thức tiếng ht hay ho; g khng phải l một giống chim cảnh như oanh như yến. Trng với dế, cng khng phải. Vậy m chng n với chng ta thật mật thiết: khi đm khi ngy, lc buồn lc vui, khi nao nao lc bng khung, đối với cc cụ cũng như đối với cc chng v nng.

Đang nhớ nhung m g n dồn cho mấy tiếng gy trưa th lng dạ bấn loạn bồn chồn, hết chịu thấu: g với người gắn b chặt chẽ qu. Ci gắn b quấn qut với dế với g, giữa thin nhin với người, l chuyện cấu thnh di lu trong khung cảnh sinh hoạt của x hội nng nghiệp.

Những lợn, b, g, vịt, mo, ngựa v.v..., chng đến với người thoạt tin khng phải để đnh bạn hay lm cảnh, cũng chưa phải l để phụ gip vo cng việc g. Thoạt tin, đến l chỉ với mục đch cung cấp một mn thịt. Vậy thi. Bấy giờ l vo hậu kỳ thời đại đồ đ mới. Cch đy năm, su nghn năm.

Ở nước ta, trong cc di chỉ khảo cổ tại Phng Nguyn, Đồng Đậu, Hoa Lộc... người ta gặp nhiều xương lợn, xương ch... Xương g chắc khng km. Trước, hy thế đ.

Rồi sau một thời gian gần gũi, giữa gia sc gia cầm v chủ nhn dần dần pht sinh một thứ quan hệ tnh cảm. Đi bn mến nhau. Người vẫn tiếp tục nhai thịt gặm xương, nhưng đm ra mến vật; cn vật (nhất l ch, mo), chng cng mến người nặng. Người với sc vật đằm thắm tnh nghĩa. C những nơi, khi chủ nhn la trần th gia sc cũng tiễn đưa người chủ xấu số đến tận huyệt mộ. Theo phong tục Mường thuở xưa, trong hng thn thch tiễn đưa, đn gia sc được xếp đi sau cht.

Bc sĩ Trần Ngọc Ninh ở tuổi cao nin cn nhớ một đoạn trong bi ht đưa ma của dn tộc Mường đ đăng trn một tờ Kỷ yếu trường Viễn Đng Bc Cổ m ng từng đọc đ lu; ng ghi lại vi cu theo tr nhớ. Lời Việt nghe ngộ nghĩnh:

Đi sau cng l những con của,

Ch, mo, g, vịt của người đ chết.

Bạn thắc mắc về hai tiếng con của? - Đ c bc sĩ Trần giải thch: "Con của l gia sc (sic!), cc con vật nui trong nh." 1

Hai nghn năm trước, người Mường người Việt chưa tch la xa mấy. Trong đm ma Việt cổ khng chừng cũng c thể c cảnh tương tự chăng? Hy mường tượng hnh dng mấy con g bịn rịn trong số những gia sc đi sau cng: Khối tang quyến đng đảo gồm đm c v đ đi trước, đến lượt g, những thn thuộc c cnh - bịn rịn m lạc loi, ngơ ngc, chn đeo cựa nhọn đầu đội mo đỏ - chng trịnh trọng lơ ngơ giữa khng kh lễ nghi tang chế vừa th lương vừa đầy b hiểm. i, những con g đưa ma! trng "thương" qu.

Trong cuộc sống chung quấn qut tnh nghĩa như thế hơn năm nghn năm, con g đ để lại cho con người biết bao kỷ niệm. Tiếng gy của n vo buổi sng, tiếng gy buổi trưa. C tiếng g phấn khch, khiến cụ Phan So Nam nhn đấy ku gọi đồng bo "Dậy, dậy, dậy", thức tỉnh m lo việc nước. C tiếng g lm người nao nao. Lại c tiếng g lm người quặn nhớ tnh nhn. Rồi lại c tiếng g lay động thời thơ ấu trong lng người tuổi tc.

Tượng g đ tm thấy ở di chỉ Đồng Đậu xa xưa. "Tượng" g bằng đất c gắn chiếc lưỡi tre l dứa by bn ở cc chợ Tết thn qu mới hồi gần đy, mua về cho trẻ con thổi ku te te mấy ngy nguyn đn... Con g mới đy cn gy trong thơ thi sĩ ny ch sĩ nọ.

Vậy m thoắt ci con g ấy đ chết rồi.

By giờ sống ở Mỹ, một hm đi chơi phố Tu thấy trong tủ knh by bn mớ g trống linh động qu, một b mua vi con đem về cho chu. Chu trng qua, hỏi l thứ chim g, rồi bỏ qua. C người về Việt Nam thăm qu, trn đường trở lại Mỹ, nhn gh Thi Lan thấy c bn g giả trng giống g thật qu, mua lm kỷ niệm, lm qu. Con chu chẳng mấy đứa để đến.

Thnh thử g giả by bn ở tiệm đồ chơi by giờ l mn toy của hạng lo thnh. Đối với giới trẻ, thật v vị.

Con g thật, thứ nhan nhản ở quầy siu thị th chỉ l thy g; cn thứ g v phc đang nui trong khu phố m lỡ ngứa miệng gy bừa bi vo buổi sng liền bị cảnh st đến lm kh dễ chủ nh. Trong trường hợp ny g gy khng chỉ l g v vị, cn l g qui gở, đng ght, khng chấp nhận được.

G thịt th cn, nhưng con g gy khng cn nữa. Con g của xc cảm khng cn, c những cu thơ tự dưng mất vị.

Khng phải sao? Chẳng hạn "Nửa chiều g lạ gy bn đ" th việc g viết ra trong dịp xa em? Khng v duyn, lảng xẹt sao? Lại chẳng hạn nhớ nh cha mẹ th cụ cứ tha hồ nhớ, tại sao ci vo đấy cu "g lại dồn thm tiếng gy trưa"? G gy lin quan thế no với nhớ nhung? Gặp bảy chữ nọ, hy tm ngay lấy, hỏi kỹ v sao n lạc vo đy, khơi khơi, v lối. Nếu n khng trnh by được l do chnh đng th phải tống ra gấp gấp.

Tiếng my bay rền rền giữa trời cao, tiếng heo bị chọc tiết (hay heo đi) ku la nhức c, tiếng cọp rống trn rừng, tiếng c l trong bụi rậm v.v..., cũng khng tăng thm sự nhớ nhung (hoặc nhớ mẹ hoặc nhớ em), nếu lọt vo cũng phải gạt ra cấp kỳ. Cu thơ vốn chật hẹp, đu phải l vựa để chất chứa ngổn ngang những mn hầm-b-lng.

Con người cấp tiến một thời l Lưu Trọng Lư bảo "ta" nao nao v g. By giờ lớp chu của "ta" hết nao nao rồi. Thơ của "ta" xa rời hon cảnh sinh hoạt nọ, ho thnh thơ siu thực, tối tăm, hũ nt. N ho đ, lầm l ngồi đấy, chờ đợi một thời kỳ nng nghiệp khng hẹn ngy trở lại. N ngồi lầm l, giữa một đống ngổn ngang bao nhiu l tiếng cn xc m khng cn hồn, mất hết hiệu năng kch xc. No phải chỉ c tiếng g gy!

Thng 7-2000

Ch thch:

(1) "Vấn đề trọng đại nhất của nghn năm tới.  Tạp ch Thế Kỷ 21, số 134, thng 6-2000.

 

Trở về trang tc giả v tc phẩm