Kiếp Con Lai

Quán Văn

Kiếp Con Lai

Tác giả: Kiên nguyễn

Người dịch: Nguyễn Cao Nguyên

 

Chương bốn mươi hai

Nha Trang, tháng 4-1984

 

Sau khi bức thư gởi cho ba tôi bị trả về c̣n nguyên vẹn, tôi chẳng c̣n chút hy vọng nào về một đời sống tốt đẹp hơn. Tôi chấp nhận sự thất vọng, tự an ủi rằng số phần tôi là một số phận không may. Với cái chết của Ánh Nguyệt và d́ Đặng đang lùi dần vào quá khứ, cùng với những hành hạ của bọn công an tôi đă gánh chịu vẫn c̣n đậm nét trong tâm trí, tôi rán cố gắng sống một đời sống b́nh thường, ít xáo trộn, rán xua đuổi ra khỏi kư ức ḿnh những nỗi kinh hoàng trong quá khứ.

Năm 1984 tôi được mười bảy tuổi, Jimmy 15 và Bé Tư lên 9. Quần áo chúng tôi rách tả tơi sau nhiều năm xử dụng, và có vá có khâu bao nhiêu cũng không kéo dài thêm được nữa. Mẹ tôi mua những bộ quần áo cũ của người lớn bán ở các tiệm b́nh dân rồi về khâu lại cho vừa với chúng tôi. Cách ăn mặc của chúng tôi gây nhiều chú ư của thầy cô và học sinh. Sự trêu chọc của họ thật tàn nhẫn, dù đó là chuyện hiển nhiên. Tôi và Jimmy đụng độ với đám trẻ con khác gần như cơm bữa. Nhưng chúng tôi không hề kể cho mẹ biết. Chúng tôi biết là bà đă chịu đựng quá nhiều căng thẳng rồi.

Lúc đó, tất cả những thứ ǵ trong nhà có thể mang ra bán được th́ mẹ tôi đă bán cả rồi. Mỗi lần một món, từ mền, khung cửa sổ, bệ cửa lát cẩm thạch cho đến một phần mái tôn che nhà bếp. Khi không c̣n ǵ để bán nữa th́ mẹ tôi trở lại việc bán hàng ngoài chợ. Lần này v́ ít vốn mẹ tôi chỉ có thể dọn một khu nhỏ trước cổng chợ bán bún cá. Khách hàng chính của bà là những người nội trợ đi mua sắm hàng ngày.

Hàng ngày, từ tờ mờ sáng mẹ tôi thức dậy trước tất cả mọi người trong nhà. Bà xuống bếp hâm lại nồi nước lèo đă nấu sẵn từ đầu hôm, rồi chiên cá, luột bún và sắp xếp rau vào một cái thau. Khi nồi nước lèo bắt đầu sôi, tỏa mùi cá thơm lừng chui vào tận mùng chúng tôi th́ bà bỏ tất cả vào một cái giỏ đen bóng. Giỏ kia bà để  những cái tô đất, đũa, muổng và gia vị. Khi chiếc đồng hồ báo thức ở nhà d́ tôi điểm sáu tiếng, mẹ tôi rời nhà, gánh trên vai hai cái giỏ nặng trĩu bằng chiếc đ̣n gánh làm bằng tre, hướng về cổng chợ.

Những ngày cuối tuần không phải đi học, tôi và Jimmy phụ mẹ gánh hàng ra chợ. Thường th́ mẹ tôi dắt Bé Tư theo cho có bạn. Bé Tư bước chậm chạp phía sau mẹ tôi, một tay xách giỏ rau, tay kia cầm cái chổi, cả hai đi xuyên qua làng, qua mấy đám ruộng. Khi tới chợ, mẹ tôi dọn hàng ngay trên mặt đất dưới gốc một cây sao. Bé Tư ôm cái gối ngồi bên vệ đường trong khi mẹ tôi chuẩn bị tiếp người khách đầu tiên, thêm mấy cục thang vào cái ḷ giữ cho nồi nước lèo luôn được nóng.

Gần trưa, khi bán hết gánh bún, mẹ tôi dẹp hàng để chuẩn bị cho công việc kế tiếp.  Mẹ tôi dùng một cây chổi quét từ đầu tới cuối con đường cho đến khi toàn cổng chợ không c̣n một cọng rác, trong khi Bé Tư ngồi dưới gốc cây sao canh chừng gánh hàng. Chủ các cửa tiệm trên con đường đó trả cho mẹ tôi một món tiền nhỏ v́ công việc quét dọn này. Mẹ tôi thường nói đó là cách bà quét những tháng ngày của cuộc đời cho nó qua nhanh hơn.

Vào những ngày mưa băo, gió rú trên những cành cây, nh́n cảnh mẹ tôi cúi gập người xuống, đầu đội chiếc nón lá rách tươm, rán giữ cho rác rến khỏi bay ngược trở ra đường mới thật là đau ḷng. Bà gầy rộc đi. Da sạm đen v́ nắng, tóc bạc trắng gần hết, bù xù trên đầu như một đống bông. Ánh mắt long lanh của bà đă từng làm say đắm bao người giờ chỉ là những tia nh́n lạnh lùng, đờ đẫn.

Tôi may mắn kiếm được một nguồn lợi tức kha khá. Qua các cuộc thi viết văn của Ủy Ban Giáo Dục Cộng Sản tại Nha Trang, tôi được cấp một học bỗng trị giá 35 cân gạo và 150 đồng mỗi tháng. Nó cũng giúp tôi vào được hội Những Người Viết Trẻ, một tổ chức rất có thanh thế. Kể từ đó, thay v́ đến học ở trường công lập, tôi  hoàn tất các chương tŕnh học của tôi qua những sinh hoạt của hội.

Trong thời gian vài tháng quư báu đó, tôi cảm thấy rất dễ thở. Nhưng giữa năm học lớp 11, trong khi các bạn cùng lớp chuẩn bị để  thi vào đại học, ông chủ tịch Hội từ chối không chịu kư đơn xin vào đại học của tôi. Ông khuyến cáo rằng tôi thuộc "giai cấp phản động" mà học được đến đó là hết mức rồi. Lựa chọn cho tương lai của tôi rất giới hạn: trở thành một phụ giáo hoặc đi dạy tư. Với học lực đó tôi không thể tiến xa trong xă hội được.

Giấc mơ vào đại học tan vỡ, tôi bắt buộc phải điều chỉnh lại những dự tính của ḿnh. Dù tôi có phấn đấu cách mấy cũng không thoát khỏi cái bóng ma của quá khứ. Nỗi mong muốn được rời khỏi Việt Nam của tôi lại sống dậy. Nhưng lần này mẹ tôi không có tiền và cũng chẳng quen biết ai để có thể giúp tôi trốn đi. Và dù mẹ tôi có khả năng đi nữa, cái kinh nghiệm của lần trốn trước đây cũng làm tôi hoảng sợ không dám thử lần thứ hai. Trong cơn tuyệt vọng, tôi viết thư cho Liên Hiệp Quốc và ṭa đại sứ Mỹ ở Thái Lan xin giúp đỡ. Thư gởi đi không một hồi âm. Cứ y như những lá thư van xin cầu khẩn của tôi bốc hơi vào không khí ngay sau khi  nó rời khỏi tay tôi ở ty bưu điện.

Rồi một ngày nắng ấm tháng Tư, tôi nhận được lá thư đầu tiên từ Băng Cốc. Tôi run rẩy xé mở cái bao thư và hít lấy cái mùi thơm của phương xa ướp trong ấy. Lá thư được đánh máy trên một loại giấy tái chế màu nâu.

Cơ Quan Thiện Nguyện Hổn Hợp

Văn Pḥng Tỵ Nạn Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ

Băng Cốc, Thái Lan

 

Thưa ông Kiên Nguyễn,

Ông đă nhiều lần viết thư cho chúng tôi yêu cầu gởi cho ông đơn xin định cư tại Hoa Kỳ. Căn cứ vào những tin tức do ông cung cấp, chúng tôi xin tŕnh bày cùng ông một phương cách khả thi hơn đối với trường hợp của cá nhân ông. Theo thỏa ước Tỵ Nạn kư năm 1980, chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Việt Nam đă kư một thỏa hiệp liên quan đến những trẻ em người Mỹ bị bỏ lại sau sự sụp đổ của Sài G̣n năm 1975. Chương Tŕnh Ra Đi Trật Tự quy định rằng những trẻ em có cha là người Hoa Kỳ có đủ điều kiện hợp lệ để định cư tại Hoa Kỳ. Một khi ông được chính phủ Việt Nam cho phép ra đi (được duyệt xét theo thứ tự) chúng tôi sẽ phụ trách việc t́m một người bảo trợ cho ông  qua các cơ quan thiện nguyện. Bản thỏa ước này phải được phổ biến nơi ông cư ngụ cùng với đơn xin. Để tiện cho ông, chúng tôi gời kèm đây bốn bản sao đơn xin để ông tùy nghi xử dụng.

Tuy nhiên xin ông đừng gởi những đơn này trở lại cơ quan chúng tôi. Việc cứu xét phải do chính quyền địa phương quyết định. Một khi ông nhận được giấy xuất cảnh của chính quyền Việt Nam, các cơ quan thiện nguyện của chúng tôi sẽ t́m người bảo lănh và thu xếp công việc định cư cho ông và gia đ́nh ông.

Xin cảm ơn sự hợp tác của ông,

Trân trọng,

 

Richard C. Cooke

Phó Gám Đốc C.Q.T.N.H.H.

Đính kèm: Đơn xin định cư.

 

Đứng ở ngưỡng cửa trong buổi chiều oi bức, miệng tôi cứ há ra, cổ nghẹn lại, không thốt nên lời. Bức thư ngắn ngủn nhưng những tin tức trong đó gây một chấn động mảnh liệt trong tôi. Tôi hồi tưởng lại những năm khốn đốn của gia đ́nh, cái lần trốn đi thất bại, những ngă đường đầy khổ ải tôi đă đi qua từ khi thiên đàng sụp đổ. Không có lấy một giây phút hạnh phúc từ khi tôi được đời dạy cho hai chữ con lai.

Ngón tay tôi mơn man những gịng mực đen, tâm trí tràn đầy những câu hỏi lạ lùng "Những người đánh máy bức thư này là ai? Họ sống như thế nào? Họ thích gi? Họ ở một nơi xa xôi nào đó nhưng một phần của họ đang ở đây, hiện diện trong những gịng chữ gởi đến cho tôi. Hàng ngàn h́nh ảnh xô đẩy nhau hiện ra trong đầu rồi cuối cùng kết lại thành một câu hỏi duy nhất: Có bao nhiêu sự thật trong vấn đề này? Dù đă từng thất vọng, tôi muốn tin những điều được ghi trong bức thư, tin đến muốn nuốt hết từng lời từng chữ  vào bụng cho nó thành một phần của tôi. Bức thư này đến thật vừa đúng lúc, giúp tôi có thêm sức mạnh và can đảm để tiếp tục sống. Tôi không tưởng tượng nổi cái ǵ sẽ xảy ra cho tôi nếu không nhận được những tin tức này. Tôi ngồi đó, nước mắt cứ tuôn ra cho đến khi bầu trời nḥe nhoẹt sắc mây.

Tối hôm đó, khi mẹ tôi về nhà người mệt nhoài, tả tơi, tôi đón bà ở cổng nhà với nụ cười thật tươi. Sau khi giúp mẹ tôi mang gánh hàng vào nhà bếp, móc chiếc nón và cái áo lên vách, tôi mang cho bà một thau nước rửa mặt. Jimmy kéo chiếc ghế duy nhất trong nhà cho ngoại tôi. Ông ngồi dưới ánh đèn vàng vọt, chờ cây quỳnh nở hoa.

Đến giờ ăn tôi đưa cho mẹ tôi coi lá thư, rán dịch cho hết nội dung bức thư sang tiếng Việt. Mẹ tôi nh́n tôi với đôi mắt mở lớn đầy sợ hăi tuồng như cái tin đó quá cái mức chịu đựng của bà. Jimmy vỗ tay vui mừng. Tôi tiến về phía cửa sổ, ngồi cạnh ngoại tôi. Bên ngoài, khu vườn ch́m trong bóng đêm dày đặc. Cách chúng tôi vài thước, bụi hoa quỳnh đẫm ḿnh trong trời đêm khô mát, cùng với mấy khóm hồng tỏa hương thơm ngát. Những búp hoa màu trắng và thon như những ng̣n tay đàn bà vươn ḿnh lên trong ánh sáng của căn pḥng chờ đón nhận ánh trăng đêm để nở những đài hoa.

"Họ muốn chúng ta làm ǵ tiếp theo?" Mẹ tôi hỏi.

"Chúng ta phải điền đơn xin, chụp h́nh, đưa cho ông chủ tịch phường kư rồi nộp tất cả vào. Sau đó th́ chờ."

"Con cứ làm những việc cần làm." Bà khẻ nói. "Mẹ thấy có vẻ bấp bênh và phức tạp quá. Chỉ đừng đặt quá nhiều hy vọng vào đó thôi."

Ông ngoại tôi kéo tôi sát vào người, th́ thầm. "Cứ thử đi, cháu. Có mất mát ǵ đâu."

*

Hôm sau tôi thức dậy sớm. Trời vẫn c̣n tối khi tôi ra trụ sở phường. Sau ba tiếng đồng hồ chờ chực ở pḥng làm việc của ông Quy Bá, tôi được cô thư kư của ông ta đóng dấu và kư tên vào đơn xin. Sau đó tôi ra sở di trú, một ṭa nhà cao cách ngôi biệt thự nhà Nguyễn cũ của chúng tôi chừng ba dăy đường.

Gió biển mằn mặn thổi qua các ngă đường nhộn nhịp nhắc nhở tôi rằng đại dương với bờ biển quen thuộc cách đó không xa mấy.

Sở di trú đầy nhóc người, trên tay người nào cũng ôm một xấp giấy tờ, vẻ mặt ưu tư lo lắng. Thoạt đầu tôi tưởng ḿnh đi lộn vào một văn pḥng bác sĩ nào đó, v́ cách kiến trúc trông rất giống. Ở cuối pḥng, nơi có tấm kính ngăn chia căn pḥng làm hai, có kê một dăy kệ cao sát trần nhà chứa đầy những tập hồ sơ. Một số hồ sơ dính đầy bụi và góc cong mốc lên v́ bị bỏ quên quá lâu. Phía sau tấm cửa kiếng, cô thư kư rút người trong ghế đang đọc quyển sách dịch tác phẩm Những Kẻ Khốn Cùng của Victor Hugo. Không rời mắt ra khỏi trang sách, cô ta ch́a cho tôi một con số. Mũi cô ta nhăn lại một cách khó chịu khi bảo tôi ra ghế ngồi chờ.

Tôi ngó quanh pḥng đợi t́m một ghế trống. Không c̣n một chỗ trống. Hầu hết mọi người đều ngồi bệt dưới đất ăn trưa và ngó nhau với vẻ bồn chồn. Đó là một ngày vô cùng trọng đại dối với họ, mặt mũi họ tràn đầy hy vọng với viễn ảnh được xuất ngoại ra nước ngoài. Tôi ra ngoài hành lang, nhập bọn với những người đang đứng chờ ở đó.

Một người đàn ông chừng ba chục tuổi đang đứng dựa vào vách tường đốt điếu thuốc. Ông ta lỏ mắt ra nh́n tôi với một vẻ ṭ ṃ không che dấu. Nét mặt sáng sủa thanh tú và đôi mắt màu nâu của ông ta trông có vẻ như là người Âu châu, nhưng các phần c̣n lại trên người th́ cũng rách rưới, bơ phờ như nhiều người Việt Nam khác. Tôi đứng ở gần cửa lắng nghe những con số được gọi ra từ bên trong.

"Ê." Ngựi đàn ông vẩy tay gọi tôi. "Cậu thuộc diện nào?"

"Xin lỗi tôi không hiểu?"

"Cậu tới đây làm ǵ?" Ông ta thay đổi câu hỏi.

"Tôi cũng không biết chắc." Tôi ngần ngừ t́m câu trả lời. "Nghe nói có một chương tŕnh gọi là O.D.P.  Tôi tới đây để t́m hiểu thêm về chương tŕnh đó."

"Tôi biết chương tŕnh đó." Người đàn ông phà khói mịt mù. "Dành riêng cho đám con lai. Tôi đă nộp đơn cách đây sáu tháng, hôm nay trở lại coi tới đâu rồi. Tôi muốn biết coi hồ sơ đă gởi đi Hà Nội chưa."

Ḷng ṭ ṃ nổi dậy, tôi hỏi:

"Xin có khó không?"

"Không hẳn là khó." Ông ta lắc đầu đáp. "Chỉ điền đơn rồi nộp cho họ. Cái phiền là thời gian chờ đời."

"Cảm ơn ông." Tôi nói.

Người đàn ông hít một hơi thuốc dài, rồi nói cùng với hơi khói thở ra:

"Này, nh́n bề ngoài cậu thấy tôi trông có giống con lính Mỹ không?"

"Tôi không biết. Ông có phải không?"

"Cũng không hoàn toàn phải." Ông ta đáp, tay gải gải cằm. "Ba tôi người Pháp. Tôi nghĩ là tôi có thể qua mặt họ được lúc phỏng vấn. Cậu có nghĩ như vậy không?"

"Tôi không biết, thưa ông. Nhưng xin chúc ông may mắn."

"Cảm ơn cậu." Ông ta nói. "C̣n cậu, cậu có mang quà cáp ǵ cho ông phó giám đốc không?"

"Dạ không. Tôi không biết chuyện đó."

Người đàn ông gật đầu vẻ rành rỏi. "Không bắt buộc, nhưng cậu nên làm. Họ sẽ chuyển hồ sơ của cậu nhanh hơn." Ông ta dụi điếu thuốc vào vách tường bẩn rồi bước vào pḥng đợi.

*

Cuộc gặp gở giữa tôi và ông phó giám đốc sở di trú hôm đó diễn ra ngắn ngủi và ngượng ngịu. Ông ta ngổi ườn người trên ghế trong căn pḥng rộng lớn chất đầy những giỏ hoa và những gói quà. Sau lưng ông ta, qua khung cửa sổ, mặt biển xanh trải dài đẹp mắt. Ông ta chừng 40 mươi, mập ph́. Chiếc cà vạt và cổ áo sơ mi trắng có vẻ siết quá chặt vào cổ làm cho khuôn mặt ông ta trông như một trái mận chín đỏ. Hai g̣ má nung núc thịt dồn lên làm cặp mắt ông ta híp lại, trông như hai vạch ngang trong các bộ chữ Tàu. Chân ông ta vẫn gác trên mặt bàn lúc tôi bước vào.

"Cậu cần ǵ đây?" Ông ta nói như hét trong tiếng ồn của sóng biển. Âm thanh dội đi dội lại trong pḥng, làm tăng thêm vẻ uy hiếp của quyền lực.

Tôi cầm chặt tờ đơn trước ngực.

"Tôi đến đây để hỏi thăm về chương tŕnh  gọi là  O.D.P."

"Cậu cần đơn?" Ông ta chồm tới chồng đơn để trên bàn.

"Dạ không, thưa ông. Tôi đă nhận được đơn qua thư gởi đến nhà."

"Vậy th́ điền vào."

"Dạ, điền rồi."

"Vậy th́ đưa đây."

Tôi trao tập hồ sơ cho ông ta. Ông ta ngó tôi rồi chuyển ánh mắt sang cái núi quà trên sàn nhà, rồi quay lại tôi. Mấy giây chậm chạp trôi qua, và ông ta chấm dứt cuộc gặp gỡ bằng một tiếng thở dài. Ánh mắt ông ta trở nên lạnh lùng.

"Đây là biên nhận. Số hồ sơ của cậu là 315." Ông ta ch́a cho tôi một mảnh giấy nhỏ, rồi quăng xấp hồ sơ của tôi nằm chồng lên những tập hồ sơ khác.

"Thưa ông, tôi phải chờ bao lâu?" Tôi hỏi.

"Tôi không biết, mà cũng không cần biết. Tôi hết trách nhiệm rồi.."

 

 Trở về trang tác giả và tác phẩm