Xưng Hô Trong Tiếng Việt

Quán Văn

 

 Xưng Hô Trong Tiếng Việt

(tiếng việt thực dụng)

hồng huy

 

Có người đă nhận định rằng tiếng Việt giàu về từ xưng hô, so với các thứ tiếng phổ thông trên thế giới. Nhận định này có căn cứ. Xin khai triển để làm rơ vấn đề, và xin lấy để so sánh với tiếng Việt, 3 thứ tiếng mà nhiều người biết là tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Tàu.

 

Về nhân xưng đại từ:

 

Người Việt có chút ít học thức th́ ai cũng nhận ra là tiếng Việt có nhiều nhân xưng đại từ hơn các thứ tiếng kia. Nhưng khi cần dịch các thứ tiếng kia sang tiếng Việt, hoặc ngược lại, sự hơn kém mới rơ rệt. Xin nêu vài thí dụ đơn giản:

 

Xin kiểm ngôi thứ nhất số ít. Nói chuyện với mọi người, một người phụ nữ Việt sẽ tùy trường hợp, tương quan tuổi tác, liên hệ bà con, mức độ thân sơ, mà tự xưng bằng những nhân xưng đại từ khác nhau:

 

-"Con", với ông bà, cha mẹ, những người bà con ngang vai với ông bà cha mẹ; với thầy cô giáo (ngày xưa); với những người già.

 

-"Cháu", với ông bà, chú bác cô d́; với những người ngang tuổi với ông bà cha mẹ.

 

-"Em", với anh chị; với những người hơn tuổi, hơn chức phận; với chồng, hoặc người đàn ông nào mà đương nhân muốn dùng tiếng xưng hô này để biểu lộ t́nh cảm; với thầy cô giáo (ngày nay).

 

-"Chị", với các em; với những người mà đương sự coi là đáng em của ḿnh.

 

-"Cô", "d́", "bác", "thím" ... với các cháu theo tương quan họ hàng; với người nhỏ tuổi được đương sự coi như con cháu. "Mẹ", "má", "me" ... với các con.

 

-"Tôi", với tất cả mọi người.

 

-"Tao", "ta", với một số người, khi đương sự không cần giữ lễ, hoặc muốn biểu lộ uy quyền, hoặc sự tức giận.

 

Nếu kể cho đủ, có lẽ cũng c̣n nữa. Nhưng đối lại từng ấy chữ, tiếng Pháp chỉ có chữ "Je", tiếng Anh chỉ có chữ "I", và tiếng Tàu chỉ có chữ "Ngộ" (ngă).

 

Bây giờ, xin kiểm qua ngôi thứ hai số ít. Trong tương quan cha-con, mẹ-con, khi đối thoại, cha mẹ gọi con bằng "con" hoặc "mày". Cũng có đôi trường hợp, đối với người con đă có gia đ́nh, có chức phận, người Bắc ngày trước kiểu cách gọi bằng "anh", bằng "chị". Đối lại, con gọi cha mẹ bằng rất nhiều tiếng: Cha, bố, ba, thầy, cậu, tía; mẹ, má, mợ, me, măng, bu, bầm, u ... Nói chuyện với một người trong ṿng bà con, người ta sẽ gọi theo vai vế: Bác, chú, cậu, dượng, cô, d́, thím, bác gái; anh, chị, dượng nó, chú nó ... Nói chuyện với người ngoài, người ta xưng theo tuổi: Cụ, ông, bà, anh, chị, chú, mày ...

 

Thật là nhiều, thật là đa dạng, không thể kể hết. Nhưng đối lại, trừ một số tương quan thật gần (như gọi cha, gọi mẹ), tiếng Pháp chỉ dùng chữ "Vous", chữ "Tu"; tiếng Anh chỉ dùng chữ "You"; tiếng Tàu chỉ dùng chữ "Nị" (nễ).

 

Căn cứ vào đây, nếu nói rằng tiếng của người là gọn, là đơn giản, th́ cũng đúng. Nhưng nếu nói rằng tiếng của ta là phong phú, th́ cũng không sai.

 

Cái phong phú và cái đơn giản chỉ khác nhau rơ rệt khi đem ra so sánh. B́nh thường, nếu cơi ai nấy đứng, phần ai nấy lo, th́ chẳng có việc ǵ phiền phức. Nhưng trong thực tế, khi hai cái gặp nhau, th́ thế nào cũng có va chạm. Tôi c̣n nhớ trong một cuốn tiểu thuyết của Khái-Hưng (h́nh như cuốn Đẹp), có mẩu chuyện này: Hai người đàn ông, vốn là bạn thân của nhau, rồi người lập gia đ́nh sớm gả con gái cho người kia. Sau ngày cưới, ông bố vợ bảo chàng rể (chỉ nhỏ hơn mấy tuổi) cứ việc "tutoyer" với ḿnh như trước. Nhưng bà mẹ vợ không chịu. Trong tiếng Pháp, gọi người đối thoại là "tu", là "toi", th́ tự nhiên thân mật. Nhưng người Việt học tiếng Pháp vẫn quen dịch "tu" và "toi" ra "mày", và "tutoyer" ra "mày tao mi tớ", th́ bà mẹ vợ quen kiểu cách kia làm sao vui ḷng chịu để cho chàng rể xưng hô với ḿnh như vậy? Lại c̣n chuyện này: Người Tàu quen gọi người đối thoại là "nị". Người Việt học chữ Hán, đọc chữ này là "nễ" và dịch gọn sang tiếng Việt là "mày". Một thanh niên người Tàu gọi cha đẻ của ḿnh là "nị" th́ không sao, nhưng gọi ông cha vợ người Việt cũng bằng tiếng ấy, th́ không chắc ông này vui ḷng. C̣n nặng hơn nữa, nếu chàng ta lại nghĩ "nhập gia tùy tục", đă làm rể gia đ́nh người Việt th́ cũng nên xưng hô bằng tiếng Việt, gọi cha vợ bằng "mày", th́ vấn đề sẽ trở nên tồi tệ. Người Việt đă quen chuyện đối với mỗi người có một tiếng xưng đúng vai vế, không bao giờ thuận tai với tiếng "nị", tiếng "mày", chung cho mọi người. Không có một bà mẹ vợ người Việt nào không thấy chối tai khi được một chú rể người Tàu chào hỏi kiểu này: Nị ăn cơm chưa?

 

Tương quan gia đ́nh:

 

Danh từ tiếng Việt chỉ những tương quan trong gia đ́nh, trong ḍng họ, cũng phức tạp hơn tiếng Pháp, tiếng Anh. Bạn nào đă từng dịch những tác phẩm tiếng Anh, tiếng Pháp sang tiếng Việt, chắc đă gặp những khó khăn loại này.

 

Trong tiếng Anh, những chữ "brother", "sister", "uncle", "aunt", có nghĩa không xác định tương quan. Trong tiếng Pháp, những chữ "frère", "soeur", "oncle", "tante", cũng giống như vậy. Nhưng trong tiếng Việt, những tương quan ấy lại được phân biệt rất rơ: Lớn hơn th́ phải gọi là "anh", là "chị"; nhỏ hơn th́ gọi là "em". Anh của cha th́ gọi là "bác"; em của cha th́ gọi là "chú". Anh em trai của mẹ th́ gọi là "cậu". Chị và em gái của cha th́ gọi là "cô". Chị và em gái của mẹ th́ gọi là "d́". Người Bắc, gọi anh và chị của mẹ là "bác". Chồng của cô, d́ th́ gọi là "dượng"; người Bắc gọi là "chú". Vợ của bác th́ gọi là "bác gái"; vợ của chú th́ gọi là "thím"; vợ của cậu th́ gọi là "mợ".

 

Vậy, gặp những trường hợp đó th́ phải dịch thế nào cho thỏa đáng, nếu người dịch không biết tương quan cụ thể? Nguyên văn Anh, Pháp chỉ cần viết "uncle", "oncle", "aunt", "tante" ... là được độc giả chấp nhận, không đ̣i hỏi người viết phải nói rơ hơn. Nhưng khi dịch sang tiếng Việt, mà người dịch không biết rơ mối tương quan gia đ́nh kia cụ thể là như thế nào, th́ không thể dịch được. Trong tiếng Việt, không có chữ nào có nghĩa bao gồm như những chữ Anh, chữ Pháp kia.

 

Xin nêu một thí dụ cụ thể: Người sáng lập giải thưởng văn chương Goncourt của Pháp là nhà văn Edmond Huot de Goncourt. Ông này có một người em trai, nhỏ hơn 8 tuổi và qua đời trước 26 năm, cũng là nhà văn, tên là Jules Huot de Goncourt. Nếu viết bằng tiếng Pháp, hoặc tiếng Anh, để nói về hai nhà văn anh em này, khi đề cập người này và nhắc đến người kia, người ta chỉ cần viết "son frère", hoặc "his brother", là đủ. Nhưng khi dịch ra tiếng Việt, ở những chỗ ấy, phải nói rơ là "anh ông ta", hay "em ông ta", chớ không thể nào nói theo kiểu không xác định lớn nhỏ, là "người anh em của ông ta" được. V́ thế, nếu không biết Edmond là anh, Jules là em, th́ không thể nào viết chỗ này bằng tiếng Việt cho thỏa đáng. Những chữ "soeur", "sister" cũng gây khó khăn cỡ đó. Với những chữ "oncle", "uncle", "tante", "aunt", sự khó khăn c̣n lớn hơn. Chẳng hạn, gặp chữ "his aunt", cứ dịch bừa là "cô của anh ta", trong khi người được đề cập là "d́", hoặc "thím", hoặc "mợ", th́ sao?

Cái phong phú, cái rơ ràng của tiếng Việt, đôi khi cũng là cái phiền phức!

 

Hạ ḿnh tôn người:

 

Về mặt này, tiếng Việt khác tiếnh Anh, tiếng Pháp, nhưng giống tiếng Tàu. Ngày xưa, trong khi nói chuyện, người Việt chúng ta thường hạ thấp ḿnh xuống và tôn cao người lên, chính là bắt chước người Tàu. Người Tàu và người Việt nói đây là những người nhiều chữ nghĩa, đă cố t́nh đưa những cái kiểu cách vào đối thoại. Tất nhiên, khi đó, sự tự nhiên mất đi, mà chân t́nh cũng không c̣n lại bao nhiêu. Chỉ c̣n sự văn vẻ. Nhưng giới thượng lưu ngày trước chỉ cần văn vẻ.

 

Sách vở xưa c̣n để lại đều do những người nhiều chữ nghĩa viết. Thế cho nên, chúng ta chỉ đọc được những lời xưng hô văn vẻ. Nhưng suy ra, chúng ta cũng có thể biết chắc bên cạnh những cái văn vẻ kiểu cách kia, từng lớp b́nh dân đông đảo vẫn dùng ngôn ngữ tự nhiên của họ để tự xưng và để gọi nhau. Vẫn là "cha tôi, cha anh", vẫn là "vợ tôi, vợ anh", không cần tiếng nào khác để thay thế. Và ngày nay, trừ một ít trường hợp rất hiếm trong giao tế của những người nệ thức, hầu hết người Việt đều dùng những tiếng xưng hô b́nh thường, cả trong đàm thoại và thư tín. Nhưng những ngôn từ kiểu cách kia đă một thời được ông cha chúng ta trân trọng, thiết tưởng cũng nên nhắc lại, pḥng khi con em chúng ta cần t́m hiểu.

 

Như đă nói, nguyên tắc của người xưa trong việc "tự xưng" (xưng)và "gọi người" (hô), là hạ ḿnh xuống và tôn người lên. Nhưng trong thực tế, có những tiếng vừa phải, có những tiếng quá đáng. Sau đây, chúng ta sẽ phân ra từng lănh vực để nhận xét:

 

    - Nói về chỗ ở, nơi làm việc, chức phận:

 

Nói về chỗ ở của ḿnh, th́ dùng chữ "tệ xá" (ngôi nhà rách nát), hoặc "hàn xá" (ngôi nhà nghèo nàn). Nói về chỗ ở của người, th́ dùng chữ "quí sở", "quí cư". Quan chức nói chuyện với nhau, cũng theo kiểu ấy. Nơi làm việc của ḿnh th́ gọi là "tệ sở", nơi làm việc của người th́ gọi là "quí sở". Nhưng có một điều cần để ư, là một khi đă dùng những chữ để hạ ḿnh và tôn người như thế, th́ phía sau không cần phải thêm chữ để chỉ cái đó thuộc về ai nữa. Chẳng hạn, chỉ cần nói "tệ xá", chớ không cần nói "tệ xá của tôi"; chỉ cần nói "quí sở", chớ không cần nói "quí sở của ngài".

 

Trong quan trường, quan nhỏ nói chuyện với quan to, việc thủ lễ là điều tất nhiên. Thông dụng và đơn giản hơn cả là hai chữ "hạ quan" và "thượng quan": Bẩm thượng quan, tuy tài hèn sức mọn, nhưng một khi được thượng quan tin cậy mà ủy thác, th́ hạ quan xin hết ḷng.

 

Thông dụng hơn cả là chữ "đại nhân". Chữ này rất dễ dùng, với người trên, với người bằng vai, với người dưới, đều được. Cũng giống như chữ "ông", chữ "ngài" về sau này.

 

Tới đây, xin nói qua về cách xưng hô giữa người dân với các quan ngày trước. Không biết do ai qui định, trước 1945, tôi nghe người dân ở quê tôi (Phú-Yên) xưng "con", và gọi các ông bang tá, huấn đạo, tri huyện, tri phủ, là "quan lớn", và gọi các ông án sát, tuần vũ, là "cụ lớn". Tôi không hiểu bằng cách nào họ phân biệt được chức vị cao thấp của các ông quan kia, cũng không hiểu tại sao chữ "cụ" lại có thân phận cao hơn chữ "quan". "Người dân" nói đây bao gồm cả các hương chức, tổng chức. ở nông thôn ngày trước, các ông tiên chỉ, lư trưởng, chánh phó tổng đôi khi cũng có nhiều uy quyền, nhưng một khi đứng trước một ông quan, tri phủ chẳng hạn, th́ vẫn phải "xưng con" và "bẩm quan lớn". Ngày c̣n nhỏ, đă có lần tôi rất ngạc nhiên khi nghe ông chánh tổng tổng Ḥa-B́nh xưng con và bẩm quan lớn với ông bang tá thị xă Tuy-Ḥa. Lúc bấy giờ (trước 1945), tổng Hoà-B́nh gồm 24 làng (village), c̣n thị xă Tuy-Hoà chỉ gồm 4 phường (quartier). Và về diện tích và dân số, một phường cũng chỉ ngang với một làng. Tóm lại, ngày trước, chánh tổng cũng được coi là dân, trong tương quan đối với các ông quan.

 

Theo thói quen, người xưa thường gọi chức tước của đối phương ra, có khi c̣n kèm theo họ. Chẳng hạn, "bẩm vương gia", "bẩm thừa tướng", "tŕnh Trần tổng đốc", "thưa Lưu học sĩ" ... Tóm lại, rất đa dạng, tùy theo trường hợp. Nhưng tự xưng, th́ không ai nêu chức tước của ḿnh, chỉ dùng một chữ nào đó để biểu lộ thân phận thấp kém của ḿnh mà thôi. Thông dụng nhất là những chữ "hạ quan", "ti chức", thiểm chức", "mạt tướng", "hạ thần", "vi thần". Hai chữ sau chỉ dùng với vua chúa.

 

Có một điều cần nói ngay ở đây để khỏi có sự hiểu lầm rằng ngày xưa, người trên th́ thích được xưng tụng, c̣n người dưới th́ quen nịnh bợ. Sự thật không phải vậy. Gọi bằng chữ ǵ chẳng qua là một lề lối đă có từ lâu đời, không ai nghĩ tới chuyện sửa đổi. So ra, chúng ta thấy về sau có những vị chuẩn úy, chuẩn tướng, giám đốc, thích thuộc hạ gọi tôn lên là "thiếu úy", "thiếu tướng", "tổng giám đốc". Nhưng ngày xưa, dù có muốn lấy ḷng thượng cấp, một viên chủ sự ṭng sự tại một bộ nào đó ở kinh, cũng không giám gọi tôn ông thị lang của ḿnh là tham tri. Gọi không đúng chức tước, dù là tôn lên, cũng có thể bị khiển trách.

Ngày xưa, tự xưng khiêm tốn là lề thói chung của mọi người, từ vua chúa đến thứ dân, từ người thường đến kẻ xuất gia. Vua chúa th́ xưng "quả nhân", "cô gia". Người thường th́ xưng "bỉ nhân", "kẻ hèn". Tăng nhân đạo sĩ th́ xưng "bần tăng", "bần đạo".

Nhưng cũng không phải lời của người thời xưa lúc nào cũng khiêm cung đối với lỗ tai của người thời nay. Có khi họ tự xưng và gọi người rất đơn giản. Tự xưng, th́ là "bổn soái", "bổn tướng", là "ta"; gọi người th́ là "ngươi", là "mi". Người xưa nói những chữ ấy rất tự nhiên, nhưng ngày nay chúng ta đọc sẽ cảm thấy họ kiêu căng, hách dịch. Cũng như trước kia, các toà án Việt-Nam đă theo công thức, dùng những chữ "bản ṭa", "bản chức", "triệu dụng", "ra lệnh", "phán rằng", "truyền", "đ̣i", "tên" (le nommé), "y", "y thị", đă bị một số người chỉ trích là quan liêu.

 

    - Nói về sở kiến:

 

Qui luật hạ ḿnh tôn người cũng được áp dụng trong khi đề cập tới ư nghĩ, kiến thức. Nói về người, th́ dùng những chữ "tôn", "cao", "diệu", "kỳ". Nói về ḿnh, th́ dùng những chữ "ngu", "thiển", "dung", "thiết" ... Tôn cả về ư lẫn người, hoặc hạ cả về ư lẫn người, không biết tác dụng có gấp đôi hay không, nhưng ngày nay chúng ta đọc thường cảm thấy lời lẽ trở thành khách sáo. Thí dụ:

 

-Ư nghĩ thiển cận của ngu đệ làm sao dám sánh với cao kiến của hiền huynh.

 

Hoặc:

 

-Nhụ tử của ti chức chỉ là hạng dung tài, mà tranh đua thi phú với lệnh công tử là bậc kỳ tài trong thiên hạ, không bơ cho người đời chê cười là loài gà mà muốn khoe sắc lông với chim phượng hoàng.

 

Nói theo kiểu như trên, sự khiêm tốn không c̣n là vừa phải nữa, mà đă trở thành thái quá, khiến người nghe không tin là thành thực. Người nghiêm khắc sẽ nghĩ khiêm tốn chỉ là giả, mà tự phụ mới là thực. Đây là trường hợp "lộng xảo thành chuyết" (khéo quá hóa vụng) mà người xưa vẫn muốn tránh.

 

    - Trong sách báo:

 

Viết văn, dù là viết sách hay viết báo, không ai dám nói rằng ư ḿnh đưa ra là hoàn toàn đúng. V́ thế, một lời khiêm tốn nào đó đôi khi cũng là cần thiết. Trong một bài báo ngắn, những lời rào đón không thích hợp, nên ư khiêm tốn thường được lồng vào những chữ có công dụng tự hạ giá, nằm rải rác trong bài. Một quan điểm, một nhận xét, nghĩ trong trí th́ tác giả đă cho là vững vàng, là tinh xác, nhưng khi viết ra, tác giả sẽ không nói như thế, mà nói gần như ngược lại. Khi đó, những chữ "nông cạn", "thô thiển", "thiển cận", "hẹp ḥi" ... sẽ được dùng tới.

 

Chẳng hạn, mở đầu một đoạn "nhận định", người viết nói: "Theo sự hiểu biết nông cạn của chúng tôi ...". Hoặc, "V́ kiến văn c̣n hẹp, chúng tôi không dám tin rằng nhận định sau đây là ...". Nhưng cũng giống như những tiếng xưng hô, càng về sau, th́ sự khách sáo trong lănh vực viết văn càng giảm đi . Giảm đi chớ không mất hẳn. Thay v́ viết những chữ "khiêm tốn" mà có lẽ chính họ cũng không tin, các tác giả thường nói giản dị hơn: "Chúng tôi thiển nghĩ ...". Cũng may là có cái công thức "vừa phải" này. Và có lẽ cũng v́ vừa phải, nên cho đến ngày nay, trong sách, trong báo, trên diễn đàn, nhiều người vẫn c̣n dùng.

 

Tuy nhiên, nói cho cùng, một khi nói "tôi nghĩ rằng", hoặc "theo ư tôi", th́ chúng ta đă nh́n nhận trước sự chủ quan của chúng ta trong ư kiến sắp tŕnh bày rồi. Nhận trước là ḿnh chủ quan, cũng là một h́nh thức khiêm tốn.

 

Đối với một cuốn sách, ngoài những lời lẽ khiêm cung rải rác bên trong, tác giả thường tŕnh bày ngay ở những trang đầu sách, những lời rào đón có ư cáo lỗi về những sai lầm của cuốn sách. Cuối bài, tác giả xin "các bậc cao minh" chỉ vẽ giúp, để cuốn sách được "hoàn hảo hơn trong những lần tái bản". Đây là những "lời nói đầu", "lời dẫn nhập", hoặc "lời tựa" do chính tác giả viết. Nếu bài tựa do người khác viết, th́ những lời lẽ khiêm tốn sẽ không xuất hiện, mà có khi ngược lại. Khiêm tốn th́ không có chuyện làm thay. Tôi nhờ anh viết tựa, tức là tôi muốn anh đề cao tôi. C̣n việc tự hạ, th́ chỉ ḿnh tôi làm là đủ rồi. Viết tựa cho người khác mà "khiêm tốn" giùm, là bất cập nhân t́nh.

 

Bây giờ, xin nói riêng về chữ "cao minh" vừa được nhắc tới. Mời người ta góp ư giúp ḿnh, mà dùng chữ này, e rằng không ổn. Ai dám tự nhận ḿnh là "cao minh" mà góp ư? Viết như thế, có khác ǵ không cho phép người khác khiêm tốn, có khác ǵ mời nhưng lại cấm thiên hạ góp ư?

 

Quân tử tạo đoan:

 

Cuối cùng, xin nhắc tới một phạm vi xưng hô đă có rất nhiều "cách tân". Đó là vợ chồng.

 

Trước hết, tôi có một thắc mắc, cho đến bây giờ vẫn chưa được giải đáp: Trong tiếng Việt, với tương quan nào, th́ tiếng chỉ "người" cũng đồng thời là tiếng để gọi (hô). Chẳng hạn, đối với người cha, th́ các con gọi là "cha"; đối với bà mẹ, th́ các con gọi là "mẹ"; đối với ông bác, th́ các cháu gọi là "bác"; đối với bà mợ, th́ các cháu gọi là "mợ". Thế tại sao, trong tương quan "chồng vợ", xưa nay, người vợ không thể gọi chồng ḿnh là "chồng", và người chồng cũng không bao giờ gọi vợ ḿnh là "vợ"? Mà phải thay vào đó không biết bao nhiêu là chữ, có khi rất lạ, không biết do đâu mà có.

 

Xin nêu một thí dụ cụ thể để nhận ra sự tiện lợi của hai tiếng gọi nhau là "vợ" và "chồng" trong tương quan "chồng vợ": Một đôi vợ chồng trẻ đang đăi tiệc. Trong lúc người chồng đang tṛ chuyện cùng các bạn ngoài pḥng khách, người vợ chạy vào pḥng ngủ thay áo, muốn gọi chồng vào giúp. Phải chi, đă quen với chữ "chồng", th́ người vợ gọi: Chồng ơi, vào đây giúp em một chút. Tiếng gọi nghe cũng êm, mà lại tránh được lầm lẫn!

 

V́ từ xưa đă cố t́nh tránh hai chữ "chồng" và "vợ" trong lúc xưng hô, nên người ta đă nghĩ ra nhiều tiếng "thế v́". Nào là "lăo gia", "tướng công", "phu quân"; nào là "ông", "ḿnh", "anh", "cưng"... Nào là "nương tử", "phu nhân"; nào là "bà", "ḿnh", "em", "bậu" ... Đó là những tiếng gọi nhau xưa và nay, giữa vợ chồng.

 

Nhưng không phải chỉ bao nhiêu đó. Ngày trước, ở những vùng thôn quê, và trong giới b́nh dân, chồng thường gọi vợ là "mày", và xưng là "tao". Vợ gọi chồng là "ông", và xưng là "tôi". Về già, chữ "mày" được đổi thành "mẹ mày", hoặc "bà". Họ gọi và xưng như vậy rất tự nhiên, và người ngoài nghe cũng không thấy chướng tai.

 

C̣n nói với người khác về vợ ḿnh, chồng ḿnh, th́ tiếng xưng cũng rất đa dạng. Xưa nay thông dụng hơn hết, vẫn là chữ "nhà tôi". Ngày xưa, khiêm tốn th́ gọi vợ ḿnh là "tiện nội" (người vợ hèn của tôi), là "chuyết kinh" (người vợ vụng về của tôi), là "ngu phụ" (người vợ ngu muội của tôi). Nhưng đối lại, người vợ ngày xưa không v́ tự khiêm mà hạ thấp chồng ḿnh theo kiểu như vậy. Tôi đọc sách xưa, chỉ đôi lần gặp chữ "chuyết phu" (người chồng vụng về của tôi).

 

Mới hơn cả, là chữ "ông xă", "bà xă". Giới trẻ ngày nay dùng hai chữ này để nói với người khác, mà cũng để gọi nhau. Thí dụ:

 

-Ông xă của tôi đang thất nghiệp;

 

-Bà xă ơi, bữa nay có muốn đi coi phim không?

 

Trên kia, tôi nói "không biết do đâu mà có", là có ư đề cập đến chữ "ông xă", "bà xă" này. Thời Pháp thuộc, ở Bắc-kỳ, "xă" là một chức vị thấp hơn các hương chức, nhưng cao hơn bạch đinh, có thể bỏ tiền ra mua, để được miễn một phần sưu dịch. ở Trung-kỳ, "xă" là lư trưởng, hương chức đứng đầu một làng (village). "Ông Xă Năm" là ông lư trưởng thứ năm (thứ trong gia đ́nh). Vậy, chữ "ông xă", "bà xă" trong tương quan chồng vợ ngày nay có liên hệ ǵ với chữ "xă" ngày trước không?

 

Hồng Huy

 

Trở về trang tác giả và tác phẩm